thuyết trình về cải lương

(Chinhphu.vn) - Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý trình Quốc hội thảo luận, xem xét, quyết định việc chưa thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27, thực hiện tăng lương cơ sở, phụ cấp ưu đãi nghề lĩnh vực y tế, lương hưu cho đối tượng nghỉ hưu trước năm 1995, ưu đãi đối với người có công. Lịch sử nhạc cải lương Lịch sử nhạc cải lương và sự xuất hiện của cải lương. Chúng ta đều biết! Không có một nền âm nhạc nào không mang tính kế thừa và phát triển. Hai mặt này đi song song với nhau. Và cùng nằm trong hiện tượng văn hoá-nghệ thuật qua nhiều … Tiểu Thuyết. Tên truyện: Tập Truyện Ngắn - Tôi! Ghét Cải Lương. Tập truyện là những tình tiết xoay quanh một loại hình nghệ thuật dân tộc Việt Nam - Cải Lương. Những nhân vật và tình tiết, địa điểm xuất hiện trong câu truyện là có thật hoặc do hư cấu. Ngoài đề Vay Tiền Nhanh Ggads. Ngày đăng 03/10/2015, 0207 Người Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứ Huế lại tự hào về những câu Nam ai, Nam bình, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác. Bài làm Người Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứ Huế lại tự hào về những câu Nam ai, Nam bình, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác. Người dân Nam Bộ cũng hãnh diện khi nói về những câu cải lương mùi mẫn làm say lòng ngưòi. Cải lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Hay nói cách khác Miền Nam của xứ Việt Nam là nơi phát xuất cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc. Ruộng cò bay thẳng cánh. Cá đầy sông, rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau và lúa gạo đầy đồng. Người miền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trên đất Nam kỳ đầu tiên. Dân ca miền Nam phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý, điệu hò, nói thơ. Cải lương đầu thế kỷ XX, làm phong phú thêm cho những làn điệu dân ca đất phương Nam. Cùng với sự ra đời của tiểu thuyết, kịch nói, thơ mới... sự ra đời. Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Nếu như kịch nói có lịch sử lâu đời và nguồn gốc từ phương Tây, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa, của quan điếm thẩm mỹ phương Tây thì sự ra đời của Cải lương có nguồn gốc từ nghệ thuật truyền thống dân tộc và sự du nhập lối biên kịch châu Âu. Yếu tố đầu tiên mang tính cội nguồn của nghệ thuật cải lương lá âm nhạc tài tử Nam Bộ. Thời ấy, Tuồng Hát bội không còn giữ vị trí độc tôn trong thường thức nghệ thuật trình diễn của đồng bào miền Nam, nên từ các vùng nông thôn bắt đầu phong trào đờn ca tài tử phục vụ trong các cuộc vui như lễ cưới, lễ hỏi, đám tiệc, đám giỗ... Theo một số nhà nghiên cứu, tiền thân của Cải Lương là nhạc tài tử biến thành "ca ra bộ" tại nhà Ổng Cai tổng Tống Hữu Định Ông Phó 12 tại Vĩnh Long năm 1917. Khi ca bài Tứ đại oán với tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, Cô Ba Định, vai Nguyệt Nga, ông giáo Diệp Minh Ký đóng vai Bùi Kiệm, ông Giáo Du, vai Bùi Ông, vừa ca vừa ra bộ. Và từ đó đã sinh ra loại "Ca ra bộ". Sự khởi đầu của hình thức này được đánh dấu tại cuộc trình diễn của nhóm ca nhạc tài tử trên sân khấu hộp trong đó có cô Ba Đắc tại Hội chợ thuộc địa tại Pháp. Sau này ca ra bộ phát triển như một trào lưu tại Nam bộ. Tiết mục được trình diễn rất thô sơ trên một bộ ván gỗ, diễn viên vừa ca, vừa diễn với điệu bộ, động tác minh họa. Ca ra bộ chính là gạch nối giữa hình thái âm nhạc và hình thái sân khâu. Và sau này trở thành Hát cải lương. Sau đó nhờ những soạn giả như ông Trương Duy Toàn, Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền... viết lại từng mảng các chuyện tích xưa để diễn ca ra bộ, với hình thức đối ca, liên ca rồi kết hợp lại thành những vở tuồng Cải lương đầu tiên như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều... Cải lương hình thành và phát triển rất mau nhờ những đóng góp cùa những bậc tài danh như Năm Phi, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Nờ, Phùng Há... Bước đầu hình thành, Cải lương giống như tên gọi cũng chịu ảnh hưởng đủ thứ nghệ thuật đầu Ngô mình Sở. Tình trạng hỗn độn trong trang phục, hay phong cách diễn vẫn thường xảy ra; chẳng hạn diễn viên đóng Lã Bố mang giày bốt, đóng Điêu Thuyền mặc áo dài, cột dây ngang lưng, đầu thắt bánh lái, cũng hát đủ kiểu tích Tau, chuyện Tây. Tuy nhiên, những gì phi nghệ thuật làm mất bản sắc dân gian dần bị đào thải. Nhờ các tác giá có tri thức, có tài năng mà sân khâu cải lương hình thành hai dòng tuồng Tàu và tuồng Tây mà sau này các nhà cứu sân khấu khẳng định là Cải lương có hai phương pháp phương pháp hiện thực tâm lý và phương pháp biểu hiện tả ý. Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ, nếu nói hát bội là loại hình nghệ thuật cũ, kịch nói là loại nghệ thuật mới thì Cải lương lại đứng giữa cái cũ và cái mới. Tính dân tộc của phương pháp biểu hiện tả ý và tính hiện đại qua phương pháp tả thực tâm lí sân khấu Cải lương vừa dân tộc vừa hiện đại là do kết hợp một cách tài tình phương pháp hiện thực tâm lý và biểu hiện tả ý đó. Về đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Không có những giọng mé, giọng hầu.. nhạc tài tử lúc hòa tấu ở phòng khách đàn hát sa-lông thường gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chi có một. Có người hát thì thêm phách hay song lang. Khi trở thành dàn nhạc cải thì số lưọng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn trống ban, song lang, cặp não bạt, đổng la, đàn cò, đàn gáo, đàn kìm, đàn tam, đàn đoản, đàn tranh. Lại thêm sáo, tiêu, kèn cùn, kèn nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm còn gọi là lục huyền cầm, tam thập lục, vi-ô-lông, hạ uy cấm. Cây lục huyền cầm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bậc, âm thanh trầm bổng lại có thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chính trong dàn nhạc cải lương, và sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống, ghi-ta điện, và đàn synthé hay organ. Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng. Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý chẳng hạn từ điệu Lý ngựa ô biến thành điệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Từ những bài nhạc lễ đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biển Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đào, Ngũ Đôì Thượng, Ngũ Đối Hạ, Đăng, Tiếu Khúc, Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư, Lưu Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv... Từ những điệu hát lấy từ nhạc nước người nhất là từ Trung Quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xù Lâu Khốc Hoàng Thiên, Liễu Xuân Nương, Bán Tiểu, Lạc Âm Thiều, Đã nói đến sân khấu Cải lương, không thể nào không nói đến bản “đinh” trong các vở. Đó là bản vọng cổ. Có người cường điệu "không có bản vọng cổ không thể trở thành một đêm hát cải lương... "Lời khẳng định trên có phần hơi quá, nhưng nghĩ kỹ lại cũng không sai. Tính hấp dẫn của một đêm diễn Cải lương không thể không nói tới sức thu hút kỳ diệu của bản vọng cổ. Được biết vào năm 1918 ông Cao Văn Lầu đã sáng tác bản Dạ Cố Hoài La sau này trở thành bản vọng cổ. Dạ Cổ Hoài Lang tiền thân của bản vọng cổ để tạo ra một không khí mới cho nền ca nhạc cổ miền Nam. Từ đó trở đi, bất kỳ trong một vở Cái lương nào, bản vọng cổ vẫn là bản nhạc chủ đạo, thể một cách đa dạng qua tất cả tình huống, trong một vở Cải lương. Nhìn lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, chúng ta không thể nào quên những nghệ sĩ lão thành có mặt từ đầu bộ môn nghệ thuật này, như kép Bảy Thông, đào Năm Thoàn trong gánh Cải Lương của Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Thuận như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phi, Báy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Út Trì Ôn... Những người nghệ sĩ này đã truyền nghề cho một thế hệ không kém nổi tiếng mà ngày nay không ai là không biết đến như nghệ sĩ ưu tú Kim Cương nghệ sĩ Duy Lân, nghệ sĩ Thành Được nghệ sĩ Út Bạch Lan, nghệ sĩ Hùng Phước, nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng, nghệ sĩ Việt Hùng... Sau nữa còn nghệ sĩ Hùng Cường, nghệ sĩ ưu tú Bạch Tuyết, nghệ sĩ Thanh Sang, nghe ưu tú Ngọc Giàu, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thuý, nghệ sĩ Mộng Tuyển, nghệ sĩ Đỗ Quyên, nghệ sĩ Hoài Thanh... Và tiếp theo sau là thế hệ mới ngày nay người không thế quên có một Hương Lan con gái nghệ sĩ Hữu Phước, Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Kim Tử Long... Bây giờ đã có Quê Trân con gái nghệ sĩ Thanh Tòng, Thi Trang, Lê Tứ... trong số nghệ sĩ lão thành và trẻ tuổi khỏi thế kể hết. Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tổn, lưu giữ. Trong mấy năm sau này, những nghệ sĩ như Thanh Tòng, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết... có tổ chức những đêm Cải lương diễn lại trích đoạn của nhiều tuồng đã được khán giả yêu chuộng và đã thu hút rất nhiều khán giả hâm mộ Cải lương. Những chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi, Vầng trăng Cổ nhạc được đông đảo khán giả theo dõi. Hai đài truyền hình HTV7 và HTV9 thường xuyên phát sóng nhiều vở tuồng Cải lương mới, cũ. Có dịp ra ngoài, người ta vẫn nghe tiếng hát cùa các nghệ sĩ trẻ Việt kiều hát Cải lương hoặc bà con ở hải ngoại sẵn sàng bỏ một buổi làm việc để mua cho được ở phòng vé một chỗ xem trình diễn "Cải lương" mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua diễn. Đặc biệt bên Pháp và bên Mỹ, Cải lương rất thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ cải lương tại hai nước đó, chẳng những diễn lại những vờ tuồng xưa mà gần đã dàn dựng những vở mới. Như thế "Cải lương" quả đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Tuy sinh sau đẻ muộn, so với hát chèo, hát bội hát tuổng, hát cải lương trong một thời gian ngắn đã đi một bước rất dài, đi vào trong lòng người dân Nam bộ nói riêng, người Việt Nam nói chung và trở thành một truyền thông vững chắc trong kịch nghệ Việt Nam. Xem thêm Video bài giảng môn Văn học >>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín, nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đại học. Người Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứHuế lại tự hào về những câu Nam ai, Nam bình, những điệu hòmái nhì, mái đẩy man làmNgười Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứ Huế lại tự hào về những câu Nam ai,Nam bình, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác. Người dân Nam Bộ cũng hãnh diện khi nói vềnhững câu cải lương mùi mẫn làm say lòng lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Hay nói cách khác Miền Nam của xứViệt Nam là nơi phát xuất cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc. Ruộng còbay thẳng cánh. Cá đầy sông, rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau và lúa gạo đầy đồng. Ngườimiền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trên đất Nam kỳ đầu tiên. Dân ca miền Namphối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền củanhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua nhữngđiệu lý, điệu hò, nói thơ. Cải lương đầu thế kỷ XX, làm phong phú thêm cho những làn điệu dân ca đấtphương Nam. Cùng với sự ra đời của tiểu thuyết, kịch nói, thơ mới... sự ra đời. Cải lương được xem nhưlà sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúanước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Nếu như kịch nói có lịch sử lâu đời và nguồn gốc từphương Tây, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa, của quan điếm thẩm mỹ phương Tây thì sự rađời của Cải lương có nguồn gốc từ nghệ thuật truyền thống dân tộc và sự du nhập lối biên kịch châu tố đầu tiên mang tính cội nguồn của nghệ thuật cải lương lá âm nhạc tài tử Nam Bộ. Thời ấy, TuồngHát bội không còn giữ vị trí độc tôn trong thường thức nghệ thuật trình diễn của đồng bào miền Nam,nên từ các vùng nông thôn bắt đầu phong trào đờn ca tài tử phục vụ trong các cuộc vui như lễ cưới, lễ hỏi,đám tiệc, đám giỗ... Theo một số nhà nghiên cứu, tiền thân của Cải Lương là nhạc tài tử biến thành "ca rabộ" tại nhà Ổng Cai tổng Tống Hữu Định Ông Phó 12 tại Vĩnh Long năm 1917. Khi ca bài Tứ đại oánvới tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, Cô Ba Định, vai Nguyệt Nga, ông giáo Diệp Minh Ký đóng vai BùiKiệm, ông Giáo Du, vai Bùi Ông, vừa ca vừa ra bộ. Và từ đó đã sinh ra loại "Ca ra bộ". Sự khởi đầu củahình thức này được đánh dấu tại cuộc trình diễn của nhóm ca nhạc tài tử trên sân khấu hộp trong đó có côBa Đắc tại Hội chợ thuộc địa tại Pháp. Sau này ca ra bộ phát triển như một trào lưu tại Nam bộ. Tiết mụcđược trình diễn rất thô sơ trên một bộ ván gỗ, diễn viên vừa ca, vừa diễn với điệu bộ, động tác minh ra bộ chính là gạch nối giữa hình thái âm nhạc và hình thái sân khâu. Và sau này trở thành Hát cảilương. Sau đó nhờ những soạn giả như ông Trương Duy Toàn, Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền... viết lạitừng mảng các chuyện tích xưa để diễn ca ra bộ, với hình thức đối ca, liên ca rồi kết hợp lại thành nhữngvở tuồng Cải lương đầu tiên như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều... Cải lương hình thành và phát triển rấtmau nhờ những đóng góp cùa những bậc tài danh như Năm Phi, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Tư Chơi,Năm Nờ, Phùng Há... Bước đầu hình thành, Cải lương giống như tên gọi cũng chịu ảnh hưởng đủ thứnghệ thuật đầu Ngô mình Sở. Tình trạng hỗn độn trong trang phục, hay phong cách diễn vẫn thường xảyra; chẳng hạn diễn viên đóng Lã Bố mang giày bốt, đóng Điêu Thuyền mặc áo dài, cột dây ngang lưng,đầu thắt bánh lái, cũng hát đủ kiểu tích Tau, chuyện Tây. Tuy nhiên, những gì phi nghệ thuật làm mất bảnsắc dân gian dần bị đào thải. Nhờ các tác giá có tri thức, có tài năng mà sân khâu cải lương hình thành haidòng tuồng Tàu và tuồng Tây mà sau này các nhà cứu sân khấu khẳng định là Cải lương có hai phươngpháp phương pháp hiện thực tâm lý và phương pháp biểu hiện tả ý. Trong bối cảnh văn hóa Việt Namđầu thế kỷ, nếu nói hát bội là loại hình nghệ thuật cũ, kịch nói là loại nghệ thuật mới thì Cải lương lạiđứng giữa cái cũ và cái mới. Tính dân tộc của phương pháp biểu hiện tả ý và tính hiện đại qua phươngpháp tả thực tâm lí sân khấu Cải lương vừa dân tộc vừa hiện đại là do kết hợp một cách tài tình phươngpháp hiện thực tâm lý và biểu hiện tả ý đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểuthuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không cònước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Không có những giọng mé, giọng hầu.. tài tử lúc hòa tấu ở phòng khách đàn hát sa-lông thường gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đànđộc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chi có một. Có người hát thì thêm phách hay song lang. Khi trở thành dàn nhạc cải thì số lưọng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn trống ban, song lang, cặp não bạt, đổngla, đàn cò, đàn gáo, đàn kìm, đàn tam, đàn đoản, đàn tranh. Lại thêm sáo, tiêu, kèn cùn, kèn nàm. Sau nàycó thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm còn gọi là lục huyền cầm, tam thập lục, vi-ô-lông, hạuy cấm. Cây lục huyền cầm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bậc, âm thanh trầm bổng lạicó thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chính trong dàn nhạc cảilương, và sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dànnhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống, ghi-ta điện, và đàn synthé hay bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, vànhững làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bàibản thông dụng. Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý chẳng hạn từ điệu Lý ngựa ô biến thànhđiệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Từ những bài nhạc lễ đình trong hát bội sau được cải biên dùngtrong cải lương như Vũ Biển Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đào, Ngũ Đôì Thượng, Ngũ Đối Hạ, Đăng,Tiếu Khúc, Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát lương như Văn Thiên Tường, TứĐại Oán, Trường Tương Tư, Lưu Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv... Từ những điệu hát lấy từ nhạc nướcngười nhất là từ Trung Quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xù Lâu Khốc Hoàng Thiên,Liễu Xuân Nương, Bán Tiểu, Lạc Âm Thiều, nói đến sân khấu Cải lương, không thể nào không nói đến bản “đinh” trong các vở. Đó là bản vọng người cường điệu "không có bản vọng cổ không thể trở thành một đêm hát cải lương... "Lời khẳngđịnh trên có phần hơi quá, nhưng nghĩ kỹ lại cũng không sai. Tính hấp dẫn của một đêm diễn Cải lươngkhông thể không nói tới sức thu hút kỳ diệu của bản vọng cổ. Được biết vào năm 1918 ông Cao Văn Lầuđã sáng tác bản Dạ Cố Hoài La sau này trở thành bản vọng cổ. Dạ Cổ Hoài Lang tiền thân của bản vọngcổ để tạo ra một không khí mới cho nền ca nhạc cổ miền Nam. Từ đó trở đi, bất kỳ trong một vở Cáilương nào, bản vọng cổ vẫn là bản nhạc chủ đạo, thể một cách đa dạng qua tất cả tình huống, trong mộtvở Cải lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, chúng ta không thể nào quên những nghệ sĩ lão thành có mặt từđầu bộ môn nghệ thuật này, như kép Bảy Thông, đào Năm Thoàn trong gánh Cải Lương của Thầy NămTú ở tại Mỹ Thuận như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phi, Báy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Út Trì Ôn...Những người nghệ sĩ này đã truyền nghề cho một thế hệ không kém nổi tiếng mà ngày nay không ai làkhông biết đến như nghệ sĩ ưu tú Kim Cương nghệ sĩ Duy Lân, nghệ sĩ Thành Được nghệ sĩ Út BạchLan, nghệ sĩ Hùng Phước, nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng, nghệ sĩ Việt Hùng... Sau nữa còn nghệ sĩ HùngCường, nghệ sĩ ưu tú Bạch Tuyết, nghệ sĩ Thanh Sang, nghe ưu tú Ngọc Giàu, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thuý,nghệ sĩ Mộng Tuyển, nghệ sĩ Đỗ Quyên, nghệ sĩ Hoài Thanh... Và tiếp theo sau là thế hệ mới ngày nayngười không thế quên có một Hương Lan con gái nghệ sĩ Hữu Phước, Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền,Kim Tử Long... Bây giờ đã có Quê Trân con gái nghệ sĩ Thanh Tòng, Thi Trang, Lê Tứ... trong số nghệsĩ lão thành và trẻ tuổi khỏi thế kể nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạctrẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảotổn, lưu giữ. Trong mấy năm sau này, những nghệ sĩ như Thanh Tòng, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết... có tổchức những đêm Cải lương diễn lại trích đoạn của nhiều tuồng đã được khán giả yêu chuộng và đã thu hútrất nhiều khán giả hâm mộ Cải lương. Những chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi, Vầngtrăng Cổ nhạc được đông đảo khán giả theo dõi. Hai đài truyền hình HTV7 và HTV9 thường xuyên phátsóng nhiều vở tuồng Cải lương mới, cũ. Có dịp ra ngoài, người ta vẫn nghe tiếng hát cùa các nghệ sĩ trẻViệt kiều hát Cải lương hoặc bà con ở hải ngoại sẵn sàng bỏ một buổi làm việc để mua cho được ở phòngvé một chỗ xem trình diễn "Cải lương" mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua diễn. Đặc biệt bên Pháp và bên Mỹ,Cải lương rất thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ cải lương tại hai nước đó, chẳng những diễn lại những vờ tuồngxưa mà gần đã dàn dựng những vở thế "Cải lương" quả đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổiqua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Tuy sinh sau đẻ muộn, so với hát chèo,hát bội hát tuổng, hát cải lương trong một thời gian ngắn đã đi một bước rất dài, đi vào trong lòng người dân Nam bộ nói riêng, người Việt Nam nói chung và trở thành một truyền thông vững chắc trong kịchnghệ Việt thêm Video bài giảng môn Văn học>>>>> Luyện thi ĐH-THPT Quốc Gia 2016 bám sát cấu trúc Bộ GD&ĐT bởi các Thầy Cô uy tín,nổi tiếng đến từ các trung tâm Luyện thi ĐH hàng đầu Hà Nội, các Trường THPT Chuyên và Trường Đạihọc. ... miền Nam Từ trở đi, Cái lương nào, vọng cổ nhạc chủ đạo, thể cách đa dạng qua tất tình huống, Cải lương Nhìn lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, quên nghệ sĩ lão thành có mặt từ đầu môn nghệ thuật. .. gái nghệ sĩ Thanh Tòng, Thi Trang, Lê Tứ số nghệ sĩ lão thành trẻ tuổi khỏi kể hết Ngày người ta yêu mến môn bên cạnh sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật Cải lương. .. diễn "Cải lương" mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua diễn Đặc biệt bên Pháp bên Mỹ, Cải lương thịnh hành Nhiều nghệ sĩ cải lương hai nước đó, diễn lại vờ tuồng xưa mà gần dàn dựng Như "Cải lương" truyền - Xem thêm -Xem thêm Thuyết minh về cải lương - nghệ thuật sân khấu truyền thống Nam Bộ Việt Nam, Thuyết minh về cải lương - nghệ thuật sân khấu truyền thống Nam Bộ Việt Nam, Bài văn mẫu lớp 10Những bài văn mẫu hay lớp 10Văn mẫu lớp 10 Thuyết minh về cải lương gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi tiết và tải về tại đây minh về Tháp bà PonagarThuyết minh về ca HuếThuyết minh về cải lươngNgười Kinh Bắc tự hào khi nhắc đến dân ca quan họ. Người xứ Huế lại tự hào về những câu Nam ai, Nam bình, những điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác. Người dân Nam Bộ cũng hãnh diện khi nói về những câu cải lương mùi mẫn làm say lòng lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Hay nói cách khác Miền Nam của xứ Việt Nam là nơi phát xuất cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc. Ruộng cò bay thẳng cánh. Cá đầy sông, rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau và lúa gạo đầy đồng. Người miền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trên đất Nam kỳ đầu tiên. Dân ca miền Nam phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý, điệu hò, nói lương đầu thế kỷ XX, làm phong phú thêm cho những làn điệu dân ca đất phương Nam. Cùng với sự ra đời của tiểu thuyết, kịch nói, thơ mới... sự ra đời. Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương như kịch nói có lịch sử lâu đời và nguồn gốc từ phương Tây, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa, của quan điếm thẩm mỹ phương Tây thì sự ra đời của Cải lương có nguồn gốc từ nghệ thuật truyền thống dân tộc và sự du nhập lối biên kịch châu Âu. Yếu tố đầu tiên mang tính cội nguồn của nghệ thuật cải lương là âm nhạc tài tử Nam Bộ. Thời ấy, Tuồng Hát bội không còn giữ vị trí độc tôn trong thường thức nghệ thuật trình diễn của đồng bào miền Nam, nên từ các vùng nông thôn bắt đầu phong trào đờn ca tài tử phục vụ trong các cuộc vui như lễ cưới, lễ hỏi, đám tiệc, đám giỗ... Theo một số nhà nghiên cứu, tiền thân của Cải Lương là nhạc tài tử biến thành "ca ra bộ" tại nhà Ổng Cai tổng Tống Hữu Định Ông Phó 12 tại Vĩnh Long năm 1917. Khi ca bài Tứ đại oán với tích Bùi Kiệm thi rớt trở về, Cô Ba Định, vai Nguyệt Nga, ông giáo Diệp Minh Ký đóng vai Bùi Kiệm, ông Giáo Du, vai Bùi Ông, vừa ca vừa ra bộ. Và từ đó đã sinh ra loại "Ca ra bộ". Sự khởi đầu của hình thức này được đánh dấu tại cuộc trình diễn của nhóm ca nhạc tài tử trên sân khấu hộp trong đó có cô Ba Đắc tại Hội chợ thuộc địa tại Pháp. Sau này ca ra bộ phát triển như một trào lưu tại Nam bộ. Tiết mục được trình diễn rất thô sơ trên một bộ ván gỗ, diễn viên vừa ca, vừa diễn với điệu bộ, động tác minh họa. Ca ra bộ chính là gạch nối giữa hình thái âm nhạc và hình thái sân khâu. Và sau này trở thành Hát cải lương. Sau đó nhờ những soạn giả như ông Trương Duy Toàn, Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền... viết lại từng mảng các chuyện tích xưa để diễn ca ra bộ, với hình thức đối ca, liên ca rồi kết hợp lại thành những vở tuồng Cải lương đầu tiên như Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều...Cải lương hình thành và phát triển rất mau nhờ những đóng góp của những bậc tài danh như Năm Phi, Năm Châu, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Nờ, Phùng Há... Bước đầu hình thành, Cải lương giống như tên gọi cũng chịu ảnh hưởng đủ thứ nghệ thuật đầu Ngô mình Sở. Tình trạng hỗn độn trong trang phục, hay phong cách diễn vẫn thường xảy ra; chẳng hạn diễn viên đóng Lã Bố mang giày bốt, đóng Điêu Thuyền mặc áo dài, cột dây ngang lưng, đầu thắt bánh lái, cũng hát đủ kiểu tích Tàu, chuyện Tây. Tuy nhiên, những gì phi nghệ thuật làm mất bản sắc dân gian dần bị đào thải. Nhờ các tác giả có tri thức, có tài năng mà sân khâu cải lương hình thành hai dòng tuồng Tàu và tuồng Tây mà sau này các nhà nghiên cứu sân khấu khẳng định là Cải lương có hai phương pháp phương pháp hiện thực tâm lý và phương pháp biểu hiện tả ý. Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ, nếu nói hát bội là loại hình nghệ thuật cũ, kịch nói là loại nghệ thuật mới thì Cải lương lại đứng giữa cái cũ và cái mới. Tính dân tộc của phương pháp biểu hiện tả ý và tính hiện đại qua phương pháp tả thực tâm lí sân khấu Cải lương vừa dân tộc vừa hiện đại là do kết hợp một cách tài tình phương pháp hiện thực tâm lý và biểu hiện tả ý đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Không có những giọng mé, giọng hầu.. nhạc tài tử lúc hòa tấu ở phòng khách đàn hát sa-lông thường gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chi có một. Có người hát thì thêm phách hay song lang. Khi trở thành dàn nhạc cải thì số lượng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn trống ban, song lang, cặp não bạt, đổng la, đàn cò, đàn gáo, đàn kìm, đàn tam, đàn đoản, đàn tranh. Lại thêm sáo, tiêu, kèn cùn, kèn nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm còn gọi là lục huyền cầm, tam thập lục, vi-ô-lông, hạ uy cấm. Cây lục huyền cầm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bậc, âm thanh trầm bổng lại có thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chính trong dàn nhạc cải lương, và sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống, ghi-ta điện, và đàn synthé hay bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng. Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý chẳng hạn từ điệu Lý ngựa ô biến thành điệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Từ những bài nhạc lễ đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biển Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đào, Ngũ Đôì Thượng, Ngũ Đối Hạ, Đăng, Tiếu Khúc, Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư, Lưu Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv... Từ những điệu hát lấy từ nhạc nước người nhất là từ Trung Quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xù Lâu Khốc Hoàng Thiên, Liễu Xuân Nương, Bán Tiểu, Lạc m Thiều, nói đến sân khấu Cải lương, không thể nào không nói đến bản "đinh" trong các vở. Đó là bản vọng cổ. Có người cường điệu "không có bản vọng cổ không thể trở thành một đêm hát cải lương... "Lời khẳng định trên có phần hơi quá, nhưng nghĩ kỹ lại cũng không sai. Tính hấp dẫn của một đêm diễn Cải lương không thể không nói tới sức thu hút kỳ diệu của bản vọng cổ. Được biết vào năm 1918 ông Cao Văn Lầu đã sáng tác bản Dạ Cố Hoài La sau này trở thành bản vọng cổ. Dạ Cổ Hoài Lang tiền thân của bản vọng cổ để tạo ra một không khí mới cho nền ca nhạc cổ miền Nam. Từ đó trở đi, bất kỳ trong một vở Cái lương nào, bản vọng cổ vẫn là bản nhạc chủ đạo, thể một cách đa dạng qua tất cả tình huống, trong một vở Cải lại nghệ thuật sân khấu Cải lương, chúng ta không thể nào quên những nghệ sĩ lão thành có mặt từ đầu bộ môn nghệ thuật này, như kép Bảy Thông, đào Năm Thoàn trong gánh Cải Lương của Thầy Năm Tú ở tại Mỹ Thuận như Năm Châu, Phùng Há, Năm Phi, Báy Nam, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Út Trì Ôn... Những người nghệ sĩ này đã truyền nghề cho một thế hệ không kém nổi tiếng mà ngày nay không ai là không biết đến như nghệ sĩ ưu tú Kim Cương nghệ sĩ Duy Lân, nghệ sĩ Thành Được nghệ sĩ Út Bạch Lan, nghệ sĩ Hùng Phước, nghệ sĩ nhân dân Thanh Tòng, nghệ sĩ Việt Hùng... Sau nữa còn nghệ sĩ Hùng Cường, nghệ sĩ ưu tú Bạch Tuyết, nghệ sĩ Thanh Sang, nghe ưu tú Ngọc Giàu, nghệ sĩ ưu tú Lệ Thuý, nghệ sĩ Mộng Tuyển, nghệ sĩ Đỗ Quyên, nghệ sĩ Hoài Thanh... Và tiếp theo sau là thế hệ mới ngày nay người không thế quên có một Hương Lan con gái nghệ sĩ Hữu Phước, Vũ Linh, Tài Linh, Ngọc Huyền, Kim Tử Long... Bây giờ đã có Quê Trân con gái nghệ sĩ Thanh Tòng, Thi Trang, Lê Tứ... trong số nghệ sĩ lão thành và trẻ tuổi khỏi thế kể nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tổn, lưu giữ. Trong mấy năm sau này, những nghệ sĩ như Thanh Tòng, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết... có tổ chức những đêm Cải lương diễn lại trích đoạn của nhiều tuồng đã được khán giả yêu chuộng và đã thu hút rất nhiều khán giả hâm mộ Cải lương. Những chương trình truyền hình như Cánh chim không mỏi, Vầng trăng Cổ nhạc được đông đảo khán giả theo dõi. Hai đài truyền hình HTV7 và HTV9 thường xuyên phát sóng nhiều vở tuồng Cải lương mới, cũ. Có dịp ra ngoài, người ta vẫn nghe tiếng hát của các nghệ sĩ trẻ Việt kiều hát Cải lương hoặc bà con ở hải ngoại sẵn sàng bỏ một buổi làm việc để mua cho được ở phòng vé một chỗ xem trình diễn "Cải lương" mà nghệ sĩ từ Việt Nam qua diễn. Đặc biệt bên Pháp và bên Mỹ, Cải lương rất thịnh hành. Nhiều nghệ sĩ cải lương tại hai nước đó, chẳng những diễn lại những vờ tuồng xưa mà gần đã dàn dựng những vở thế "Cải lương" quả đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Tuy sinh sau đẻ muộn, so với hát chèo, hát bội hát tuồng, hát cải lương trong một thời gian ngắn đã đi một bước rất dài, đi vào trong lòng người dân Nam bộ nói riêng, người Việt Nam nói chung và trở thành một truyền thông vững chắc trong kịch nghệ Việt minh về cải lương vừa được gửi tới bạn đọc. Như các bạn đã biết Cải lương là một làn điệu đặc trưng của mảnh đất phương Nam. Cải lương được xem như là sản phẩm mang tính tất yếu của lịch sử. Nó hình thành từ sự tiếp xúc giữa nền văn hóa nông nghiệp lúa nước và nền văn hóa công nghiệp phương Tây. Cải lương mang tính cội nguồn là âm nhạc tài tử Nam Bộ. Về đề tài kịch bản không phải chỉ lấy trong lịch sử Trung Quốc hay Việt Nam mà còn lấy trong các tiểu thuyết hay những cốt truyện do tác giả kịch bản đặt ra. Về nghệ thuật biểu diễn Thật mà đẹp. Không còn ước lệ như trong hát bội. Dùng giọng thật, tự nhiên. Nhạc cụ thì phong phú như có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn độc huyền, sáo hay tiêu, mỗi thứ nhạc cụ chỉ có một. Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài từ, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Ngày nay người ta vẫn yêu mến bộ môn này bởi vì bên cạnh những sân khấu kịch nghệ, sân khấu ca nhạc trẻ, sân khấu nghệ thuật. Cải lương đã luôn hình trong lòng khán giả và còn tiếp tục đi tới trong việc bảo tổn, lưu giữ. Cải lương đã được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cải lương cũng đã được thay đổi qua nhiều thế hệ, chịu thử thách với thời với nhiều thử nghiệm. Mong rằng qua bài viết này bạn đọc có thêm tài liệu để học tập đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 10 Thuyết minh về cải lương. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 10 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo Thuyết minh về làn điệu chèo Bài văn mẫu Thuyết minh về cải lương - nghệ thuật sân khấu truyền thống Nam Bộ Việt Nam dưới đây là sự am hiểu sâu sắc và phong phú của người viết về một loại hình nghệ thuật sân khấu vô cùng tiêu biểu ở miền Nam Bộ Việt Nam mang tên "cải lương", các bạn cùng theo dõi để có sự hiểu biết về loại hình nghệ thuật độc đáo này. Bài viết liên quan Thuyết minh về một loại hình ca nhạc hay sân khấu mà anh chị yêu thích Thuyết minh về nghệ thuật Múa rối nước Thuyết minh về một làng nghề truyền thống, một đặc sản, một nét văn hóa ẩm thực Thuyết minh về một lễ hội truyền thống dân tộc Phân tích, đánh giá chủ đề và nghệ thuật của một màn kịch Đề bài Thuyết minh về cải lương - nghệ thuật sân khấu truyền thống của Nam Bộ, Việt NamBài văn mẫu Thuyết minh về cải lương - nghệ thuật sân khấu truyền thống của Nam Bộ, Việt NamBài mẫu Thuyết minh về cải lương - nghệ thuật sân khấu truyền thống của Nam Bộ, Việt NamNhắc tới Nam Bộ, Việt Nam, người ta hẳn sẽ nhớ ngay tới những con sông dài, những con kênh chằng chịt, những vườn cây trái trĩu quả, những phiên chợ nổi tấp nập kẻ bán người mua, những con người miền Nam thật thà, chất phác, giản dị vô cùng trong chiếc áo bà ba nâu. Và chắc hẳn, nếu ai đã từng tới thăm nơi đây, sẽ không thể nào quên được những làn điệu dân ca, vọng cổ và đặc biệt là làn điệu cải lương - nghệ thuật sân khấu truyền thống của người dân Nam như miền Bắc có những làn điệu dân ca quan họ trĩu nặng tình yêu, miền Trung có những câu hò nghe tha thiết, thì ở miền Nam, người ta lại có thể rạo rực trong lòng khi nghe tới những câu cải lương thấm đẫm tình đất và tới cải lương, hẳn không ai còn xa lạ. Cải lương là một làn điệu dân ca của người Nam Bộ. Nó là một loại hình kịch hát được hình thành trên cơ sở của nhạc đờn ca tài tử và dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long. Cải lương hiểu theo nghĩa từ Hán Việt có nghĩa là "sửa đổi để cho tốt hơn". Chính dựa trên những nguyên tắc và cơ sở từ lối hát truyền thống trước, đã hình thành nên một làn điệu dân ca mới, một sân khấu truyền thống mới in đậm hơn dấu ấn của người Nam lương nổi tiếng là thế nhưng lịch sử và nguồn gốc ra đời của nó vẫn còn là đề tài tranh luận của nhiều học giả nổi người cho rằng, cải lương xuất phát, manh nha từ những năm đầu thế kỉ hai mươi, từ những năm 1916 hoặc 1918. Thế nhưng cái tên chính thức "cải lương" thì lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1920 trong gánh hát Tân Thịnh với câu liên đối"Cải cách hát theo tiến bộLương truyền tuồng tích sánh văn minh"Cứ thế, cải lương ra đời và phát triển một cách hưng thịnh trong những năm đầu của thế kỉ hai mươi và lưu truyền tới tận bây giờ. Cải lương đã đi vào đời sống tinh thần của người dân Nam Bộ trong từng câu hát, từng điệu hò đối đáp nhau. Nó đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam thuật sân khấu truyền thống - cải lương nổi tiếng đến như vậy nhưng đặc điểm của cải lương là gì thì ít ai có thể hiểu ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu đó Nam Bộ đôi ba câu cải lương vọng để hiểu được ý nghĩa của từng câu chữ, cũng như cách dùng từ, dựng sân khấu, đề tài thì chúng ta khó có thể nắm bắt được cải lương, cái bắt đầu khởi sự của cải lương là những vở kịch nói mang hơi hướng của những câu hát bội và sân khấu của hát bội miền Nam. Thế nhưng dần dần, từ những vở kịch đầu tiên mang bố cục từ những tích cổ, những câu chuyện xưa, cải lương đã có cho riêng mình một sân khấu đặc trưng với các phần mở màn, hạ màn và tiến triển theo hành động của kịch. Chính những điều này đã kích thích sự phát triển của sân khấu kịch cải lương từ những ngày đầu mới như tuồng, hát bội, kịch nói, ... thường được dựng lên từ đề tài quen thuộc như những câu chuyện cổ tích, những sự tích được lưu truyền trong dân gian thì cải lương lại mở ra một lớp đề tài với cốt truyện rộng hơn. Những đề tài trong sân khấu cải lương được dựng lên từ những câu chuyện đời sống quen thuộc của người dân Nam Bộ, thêm vào đó là những câu chuyện mang màu sắc xã tài để dựng lên một vở cải lương không hề khan hiếm cũng không hề kén ta có thể dùng bất cứ nội dung đề tài nào để dựng lên một câu chuyện cải lương với những câu hát da diết, thầm đẫm tình cảm trong đó. Chúng ta có thể thấy những vở cải lương rất nổi tiếng như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, ... Ngoài ra, những câu chuyện tạo nên vở cải lương cũng có thể là các truyện nổi tiếng ở nước ngoài. Tóm lại, cải lương có thể dung nạp bất kì nội dung nào để tạo nên một vở kịch cải lương đặc sắc nhưng không thể thiếu trong đó là cái chất riêng của người Nam Bộ, cái hồn riêng của nghệ thuật sân khấu truyền thống được thổi vào đó qua từng câu chữ, từng tiếng khấu cải lương cũng như các loại hình tuồng chèo, ... được coi là một loại hình sân khấu ca kịch. Dựa theo những khuôn nhạc đã có sẵn, từng vào từng vở diễn mà người sáng tác đã viết nên những lời bài hát phù hợp với từng câu chuyện diễn biến trong đó. Sân khấu cải lương quy tụ hầu như tất cả các loại hình dân ca của miền Nam Việt Nam. Nó sử dụng vốn ca từ phong phú của dân ca Nam Bộ, từ những câu hò, những điệu lý như lý con sáo, lý giao duyên, lý ngựa ô, ... đều được sử dụng và vận dụng trong cải lương hết sức sáng tạo và nhuần nhuyễn. Có lẽ vì thế, người ta yêu thích cải lương bởi sự ngẫu hứng, sự tinh tế, nồng nàn, da diết qua từng câu hát quen thuộc, từ những sân khấu được dàn dựng chi chỉ độc đáo trong cách bố cục hay lựa chọn đề tài, cải lương còn làm người ta ngạc nhiên khi có thể dung nạp và làm hòa hợp cả hai dàn nhạc cổ và tân. Nếu như với các loại hình dân ca khác, người ta chỉ có thể sử dụng các loại nhạc cụ cổ điển để tạo nên âm thanh cho vở diễn thì đến với cải lương, nó lại có thể hòa hợp được cả hai loại hình nhạc cụ đến nhạc trong các vở diễn cải lương, nó đóng một vai trò hết sức quan là công cụ giúp làm đẹp cho giọng hát của diễn viên, khiến cho diễn viên có thể dùng nó để tô điểm cho không chỉ giọng hát của mình mà còn thể hiện cả diễn biến tâm lý của nhân vật được thể hiện riêng trong dàn nhạc của cải lương như đã nói ở trên là sự hòa trộn tham gia của hai dàn không những không lấn át nhau, không kệch cỡm mà lại có sự giao thoa, bổ trợ lẫn nhau, tạo nên một bản phối hoàn hảo cho loại hình cải lương đó, dàn nhạc cổ điển giữ vai trò chủ đạo trong những vở diễn cải lương. Nó luôn luôn giữ linh hồn trong từng câu hát và bổ sung vào đó là những nhạc cụ hiện đại cũng rất đa dạng, đầy màu hình cải lương cũng có lối diễn khác so với các loại hình khác của dân ca Nam Bộ. Nếu như các điệu hò, điệu lý của Nam Bộ chỉ chuộng về giọng hát, không chuộng cử chỉ hành động thì cải lương lại khác. Nó không chỉ yêu cầu diễn viên phải có một giọng hát tốt, với các quãng sâu và rộng, nó còn yêu cầu diễn viên phải có được sự dẻo dai trong các cử động, cử chỉ. Nói chung, cải lương đã mở ra một lối mới trong dân ca miền Nam, với cách diễn như kịch nói nhưng lại sử dụng hình thức lời ca. Nghệ thuật cải lương hình thành từ lâu, nhưng trước kia, nó chỉ được dàn dựng để phục vụ khi có nhu cầu từ những quán hát hay từ những quan chức chính quyền. Ngày nay, cải lương đã trở thành một nét văn hóa truyền thống mà đi đến bất cứ đâu ở Nam Bộ, ta cũng có thể nghe thấy những câu hát cải lương vọng lên da diết thân thương. Với chiều dài và bề dài lịch sử, cải lương đã sớm trở thành biểu tượng văn hóa của Nam Bộ, Việt lương đã làm nên tên tuổi của mình trong lòng những khán giả yêu mến nó bởi không ít những vở diễn thành công. Trong số đó, không thể kể tên các vở cải lương nổi tiếng, để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng khán giả như vở Lan và Điệp, Tô Ánh Nguyệt Trần Hữu Trang, Kiều Nguyệt Nga Ngọc Cung, Đời cô Lựu Trần Hữu Trang, ... cùng với đó là các nghệ sĩ nổi tiếng đã thể hiện thành công cải lương trên màn ảnh như nghệ sĩ Kim Cương, nghệ sĩ Út Bạch Lan, nghệ sĩ Thanh Sang, Ngọc Giàu, ... Chính những vở cải lương và những nghệ sĩ tâm huyết này đã mang khán giả không chỉ ở riêng Nam Bộ mà còn là khán giả cả nước cũng như nước ngoài đã trở nên gần gũi hơn, yêu mến hơn và quý trọng hơn loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống nửa đầu của thế kỉ trước, đã có những lúc sân khấu cải lương trở lên vị trí độc tôn, trên mọi loại hình ca nhạc nay, công chúng vẫn luôn yêu mến loại hình này tuy đã không còn được phổ biến rộng rãi như trước cải lương vẫn đang được các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là người dân Nam Bộ lưu truyền và gìn giữu qua bao năm tháng. Cùng với đó, những người nghệ sĩ tâm huyết với cải lương như Bạch Tuyết, Út Bạch Lan, ... vẫn tổ chức những đêm nhạc cải lương để phục vụ đông đảo người dân yêu mến loại hình này. Những nghệ sĩ trẻ cũng đang chung tay hành động, bảo vệ và phát triển cải lương. Họ đã đem cải lương ra cả hải ngoại để phục vụ cho bà con Việt Nam đang cư trú tại nước ngoài và tuyên truyền để phát huy hơn nữa nghệ thuật sân khấu truyền thống này của Việt với sự phát triển của sân khấu điện ảnh, của những gameshow truyền hình, cải lương ngày nay không còn có được vị thế huy hoàng như trước kia. Thế nhưng không vì thế, sự yêu mến đối với bộ môn này bị mất đi trong lòng những người yêu văn hóa. Cải lương cũng đã trải qua những thăng trầm, thử thách khắc nghiệt của lịch sử, nhưng nó vẫn đang ở lại cùng người dân Nam Bộ nói riêng và người dân Việt Nam nói chung. Và nó sẽ còn được giữ gìn, phát huy và trường tồn cùng dòng lịch sử của Việt Nam và xứng danh là nghệ thuật sân khấu truyền thống của Nam xem thêm các bài văn mẫu thuyết minh - Thuyết minh về thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật- Thuyết minh về thể thơ lục bát- Thuyết minh về mũ bảo hiểm

thuyết trình về cải lương